Ẩn ý của Louis Kahn

Năm 1974, Louis Kahn qua đời đột ngột vì một cơn đau tim ở Ga Pennsylvania, New York.

Đó là sự chấm dứt đột ngột đối với sự nghiệp của một trong những kiến trúc sư có tầm ảnh hưởng lớn nhất, kể từ khi Standford White bị chồng của một nữ nhân tình giết hại. Kahn là người nổi tiếng nhưng mang diện mạo khá bụi bặm, sau khi mất thi thể của ông nằm ở nhà tang lễ hơn hai ngày cho đến khi có người nhận ra đó là một vĩ nhân về văn hóa, không phải một người hành khất.

Những sự việc đặc biệt hơn chưa dừng lại với sự ra đi của Kahn. Sở Cảnh sát New York đã liên hệ với vợ ông là Esther để thu xếp đưa thi thể về Philadelphia. Ngoài con gái của Kahn ở tang lễ là Sue Ann, còn có hai người con khác mà ông đã có trong thời gian kết hôn với Esther. Thấy rằng không thể từ chối sự tham dự từ những gia đình khác của chồng, Esther đã yêu cầu trước tang lễ là bà sẽ ngồi ở vị trí để không phải thấy họ.

Kiến trúc sư Louis Kahn.

Đời tư của Louis Kahn phần lớn được giữ kín. Cáo phó của ông trên tờ New York Times chỉ đề cập đến Esther và Sue Ann, tờ báo đã không ngờ đến những người con khác là Alexandra Tyng và Nathaniel Kahn. Xét đến quan điểm báo chí về chủ đề này trong giai đoạn 1974, chủ biên hẳn sẽ cấm đề cập đến chuyện này trên mặt báo nếu biết tin. Chỉ cho đến khi Nathaniel, nay là một nhà làm phim thành đạt, cho ra mắt bộ phim My Architect vào năm 2003, kể về hành trình đi tìm người cha đẻ của ông.

Ngày nay, Kahn được coi là một trong những kiến trúc sư vĩ đại nhất có lẽ chỉ sau Frank Lloyd Wright. Lượng công trình ông làm ít hơn so với tiêu chuẩn của Wright nhưng trong số đó không có ít kiệt tác: Nhà thờ Nhất vị ở Rochester, New York (1962), Viện Salk ở La Jolla, California (1963), thư viện ở Học viện Phillips Exeter (1971), Bảo tàng Nghệ thuật Kimbell ở Fort Worth (1972), Viện Quản lý Ấn Độ ở Ahmedabad (1974), Bảo tàng Mỹ thuật Yale ở New Haven (1977), các tòa hành chính ở Dhaka, Bangladesh (1983) và một lượng lớn những công trình được hoàn thành sau khi ông mất như công viên Four Freedoms, hay công trình tưởng niệm Franklin Delano Roosevelt ở New York do ông thiết kế và đến năm 2012 đã được xây dựng và công nhận.

Viện Salk. Ảnh: Liao Yusheng

Những công trình kể trên không hoành tráng như của Frank Gehry, cũng không có sự tinh tế theo phong cách của Renzo Piano hay Norman Foster. Kiến trúc của Kahn kén chọn, không hoàn toàn cởi mở với đám đông, không mềm mại hay dí dỏm. Ông thiết kế những công trình cứng cáp bằng đá, thép, gỗ, kính mà toát lên một vẻ trầm mặc, sâu lắng như tranh của Rothko. Nội thất Nhà thờ Thất vị ở Rochester được làm từ những khối bê tông, tuy có vẻ thô cứng nhưng tạo được sự cân bằng tỉ lệ và gợi hiệu ứng hút sáng bắt mắt cho một không gian duy tâm.

Kahn đã dẫn dắt một thế hệ kiến trúc sư khỏi những chuẩn quy xây dựng hiện đại với kính và thép, con đường ông chọn nhẹ nhàng, sâu sắc, nhiều triết lý và đôi khi cả huyền bí – một phần lý do ông chưa bao giờ thực sự nổi tiếng rộng rãi. Sự bí ẩn của ông không chỉ được nhận thấy bởi các cảnh sát viên ở Sở Penn, cáo phó trên thời báo New York phải viết theo hạn chót ngay trong đêm mọi người biết tin ông qua đời bởi chủ biên không biết rõ thân thế. (tác giả bài viết không xa lạ gì với câu chuyện bởi vì chính là nhân viên viết cáo phó trong đêm ấy)

Trong cuốn chuyên khảo “You Say to Brick” của tác giả Wendy Lesser, di sản kiến trúc của Louis Kahn cũng không đồng nhất với tiếng tăm của vị kiến trúc sư. Nếu danh tiếng là chuẩn mực để những cái tên như Gehry, Rem Koolhaas, Bjarke Ingels và Zaha Hadid thường xuyên được nhắc đến, thì Kahn lại không nằm trong số đó.

Bảo tàng Nghệ thuật Kimbell. Ảnh: Xavier de Jauréguiberry

Sự nghiệp của ông phát triển một cách chậm rãi, công việc của ông còn không được quá chú trọng cho đến khi Phòng trưng bày Yale được hoàn thành vào năm 1953, khi đó Louis Kahn đã 52 tuổi. Ông từ tốn và cẩn thận với những thiết kế của mình đến mức còn bị mất tiền trong nhiều dự án, nợ nần theo sau. Ngược với phong cách của một trong những kiến trúc sư hàng đầu hiện nay là Ingels, Kahn dành hầu hết tuổi 30 để từng bước đầu tư cho nghề, ông từng vấp phải nhiều khó khăn tài chính và trong việc tìm khách hàng đồng cảm với mình. Ingels thì sinh ra cùng năm Kahn mất nhưng hầu như đều có công trình mới để công bố mỗi tuần ở nhiều châu lục khác nhau. Khái niệm “ngôi sao kiến trúc sư” là tất cả những gì ngược lại với bản chất của Louis Kahn.

Louis Kahn ở trường lao động Brookwood năm 1936. Ảnh: Sue Ann Kahn.

Cuốn “You Say to Brick” không chỉ đề cập đến Kahn, mà còn cả sự thay đổi văn hóa đã khiến phong cách của ông bỗng chốc không hợp thời. Tất nhiên tác giả cuốn sách có đủ tinh tế để không phản biện lại chuẩn quy kiến trúc trong xã hội hiện đại, thay vào đó dùng những thông tin chuyên khảo để kể một câu chuyện mà độc giả dễ dàng liên hệ với bối cảnh ngày nay. Lesser đã đi vào từng chi tiết nhỏ từ hành trình về Philadelphia từ Ấn Độ của Kahn, cho đến những cuộc gọi đầy lo âu từ người vợ và thư ký khi đi tìm tung tích ông.

Cuốn sách của Lesser nói về kiến trúc, nhưng qua đó độc giả cũng thấy hơn phần nào tính cách của Louis Kahn, lý lịch gia đình ông, gốc gác do Thái, mối quan hệ sâu sắc của ông với kiến trúc. Sau đó tác giả đi sâu vào sự khác biệt giữa Nhà ga Phố 30 ở Philadelphia với nhà ga quy mô thay thế Ga Penn cũ để mào đầu cho sự ra đi của ông tại chương thứ nhất. Vẻ đẹp của Nhà ga Phố 30 được miêu tả đầy chi theo một cách có chủ ý, thật đặc biệt khi công trình đầu tiên được đề cập trong sách lại là một công trình không phải do Louis Kahn thiết kế.

Sách chuyên khảo không phải loại ấn phẩm tốt nhất để đi sâu vào sự nghiệp của một kiến trúc sư. Những câu chuyện cuộc đời và đánh giá chuyên môn hiếm khi ăn nhập với nhau. Ngay cả những cuốn sách tiêu biểu nhất như cuốn nói về Mark Stevens và de Kooning cũng cần người đọc phải dành thời gian làm quen với những cách trình bày.

Với nhiệt huyết của mình, Lesser đã cố gắng tạo ta cách dẫn chuyện mới cho loại sách chuyên khảo về kiến trúc: Thay vì kể về cuộc đời của Kahn, cô đan xen 5 chương nói về một số công trình như: Viện Salk, Bảo tàng Kimbell, Thư viện Phillips Exeter, Nghị viện Quốc gia Bangladesh và Viện Quản lý Ấn Độ. Đây không phải những nhận xét chuyên môn hay giới thiệu công trình, mà là trải nghiệm cá nhân khi đến thăm của tác giả.

Lesser là một hướng dẫn viên nhiệt tình, cuốn sách của cô đi sâu vào những chi tiết cần thiết của kiến trúc và tránh lối mòn mà cách kể chuyện truyền thống có thể gây ra. Tuy nhiên các chương đan xen ít khi thuật lại giai đoạn Kahn đang thiết kế các công trình, có thể gây bối rối cho người đọc.

Dù sao Lesser đã hoàn thành trách nhiệm truyền tải nội dung chính là sự nghiệp của một kiến trúc sư, chứ không phải kể chuyện về một kiến trúc sư cá tính thiết kế các công trình để kiếm sống. Giúp người đọc đồng cảm với góc nhìn về hình khối, ánh sáng vật liệu của chính Louis Kahn, đó là điều mà nhiều loại sách về kiến trúc sư cần học tập.

Lesser có thể nói rất nhiều về Kahn, từ cuộc đời đến đam mê, sự nghiệp của ông. Trong khi những suy nghĩ do chính ông truyền tải có thể còn chưa rõ, và đây không phải điều mà tác giả nào cũng làm được.

Rất quan trọng để lưu ý rằng Lesser đã kể rất nhiều về những nỗ lực của Kahn trong việc tạo ra những công trình cá tính trong thời buổi ưa chuộng sự giản đơn, nhanh chóng và rẻ. Song giá trị cốt lõi của cuốn sách cô viết là sự khám phá nội tâm của Kahn, cách ông giải quyết những bài toán mà vẫn tạo được mối liên hệ giữa các công trình và bối cảnh xung quanh.

Viện Quản lý Ấn Độ. Ảnh: Dave Morris

Kahn thích nói về những khởi điểm sáng tạo, mỗi khi làm một dự án mới, ông thường sẽ truy ngược những gì mình đã biết về một giải pháp căn bản nào đó. Ông nghiên cứu lịch sử rất cẩn thận, đối với những học giả như Vincent Scully thì mang ảnh hưởng mạnh mẽ bởi kiến trúc xưa, nhưng Kahn luôn chú trọng vào sự tích lũy thay vì sao chép lại thứ đã có, ông không ngừng tìm tòi để khám phá ra hình ảnh biểu tượng mới như bản thân ông mong muốn.

Quan điểm chính trị cánh tả và thẩm mỹ kiến trúc của Kahn là hai thái cực góp phần hình thành nên sự quan tâm đến những không gian biểu tượng của Kahn, đôi khi dường như khiến ông quên đi những vấn đề cấp thiết như việc ăn, mặc của mọi người. Nhưng đối với Kahn trách nhiệm xã hội và phong cách chưa bao giờ là trọng số. Quan điểm của ông rằng kiến trúc cũng như nghệ thuật, là một trải nghiệm mà ai cũng xứng đáng có. Có những kiến trúc sư muốn cho người dân một mái nhà, Kahn thì muốn cho họ đền đài.

Một phần vì hiếm có khách hàng có đủ sự kiên nhẫn để làm việc với Kahn, ông thường xây những công trình hàn lâm và công cộng cùng một số nhà ở, dù chúng không nằm trong danh sách các công trình tiêu biểu nhất. Ông thích thiết kế bảo tàng, công trình tôn giáo, dân sự vì qua đó ông có cơ hội nghĩ về sự ảnh hưởng của kiến trúc đến đời sống. Ông không coi các công trình của mình là những tác phẩm nghệ thuật thuần túy để thoát ly thực tại. Thay vào đó ông thấy thẩm mỹ trong kiến trúc có thể nâng cao chất lượng của sống của mọi người. Kahn tin rằng nếu hình thức là thứ cao nhất thì một điều gì đó gần gũi với sự kết nối và trách nhiệm sẽ theo ngay sau.

Cá tính của Kahn được thể hiện qua cả lời nói cũng như những công trình ông làm, tinh thần này mang một sắc màu có phần huyền bí và đầy những ẩn ý: “Một công trình tốt phải có khởi điểm không đo đếm được, trải qua những biện pháp xác số trong quá trình thiết kế và cuối cùng cho ra một kết quả vô số… đó là tinh thần tâm linh.” Hay một câu nói khác của ông: “Mặt trời không bao giờ biết sự to lớn của nó cho đến khi va vào một tòa nhà.” Hoặc: “Tôi muốn trao tri giác cho một bức tường.”

Thánh đường ở toà nhà tổ hợp Dhaka, thiết kế bởi kiến trúc sư Louis Kahn. Ảnh: Richard Meier.

Nếu không vì sức ảnh hưởng của những công trình Kahn để lại, có lẽ công chúng sẽ không bao giờ coi trọng những lời nói của ông. Tuy có sức gợi nhưng lời ông nói hay viết hướng đến lý do cho những thiết kế hơn là đưa ra cái nhìn chi tiết vào công việc. Kahn đã dành cả đời theo đuổi chân lý hướng sinh trong kiến trúc. Những câu chữ ẩn ý là cách ông khai thác tinh túy của lĩnh vực này: Không chỉ bảo vệ con người khỏi mưa nắng, mà còn mang đến một nơi che chở đầy tính duy tâm.

“Thế giới có cần Bản Giao Hưởng Thứ Năm trước khi Beethoven viết lên? Người nhạc sĩ có cần nó không? Ông đã sáng tác và thế giới cần đến nó. Khao khát là sự sáng tạo nên nhu cầu mới.” Đây là những lời Kahn nói tại Hội thảo Thiết kế Quốc tế ở Aspen, qua đó mọi người thấy được mong muốn của cá nhân ông khi làm công trình. Sau cùng, ông muốn kiến trúc thoát ly khỏi thực tại và những mối quan tâm thực dụng. Đối với Louis Kahn, thử thách của kiến trúc không phải trong ấn tượng cảm xúc lâu dài. Liệu thế giới có cần đến những công trình của ông trước khi có cơ hội trải nghiệm? Có lẽ là không, nhưng sau khi xuất hiện Bảo tàng Kimbell, Viện Salk, bảo tàng nghệ thuật Anh Quốc,… thật khó để hình dung một thế giới không có những kiệt tác này.


Nội dung:
Paul Goldberger

Xem thêm
Di sản nhà thờ do Walter Maria Förderer xây dựng