Kiến trúc nhà ở dân gian ở Hà Tây

Hà Tây là một tỉnh cũ thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, Việt Nam, từng tồn tại trong hai giai đoạn: 1965–1976 và 1991–2008. Vào ngày 1 tháng 8 năm 2008, toàn bộ diện tích và dân số của tỉnh Hà Tây được sáp nhập vào thành phố Hà Nội.


Nhà ở là loại hình kiến trúc dân gian do cộng đồng cư dân tự đầu tư, lao động sáng tác kiểu hình hợp với từng vùng, miền, dân tộc và từng chủ nhân. Ngôi nhà ấy là nơi cư trú và là tổ hợp không gian văn hoá của cộng đồng. Cấu trúc mặt bằng, quy mô kiến trúc của nhà ở dân gian của mỗi dân tộc trên đất Hà Tây cũng có thay đổi, theo hướng phát triển. Tốc độ thay đổi của nó cùng đồng hành với sự phát triển của lịch sử xã hội, mức độ tăng trưởng của nền kinh tế – văn hoá và của môi trường địa lý. Dù sao, yếu tố truyền thống ngôi nhà Việt cổ vẫn còn in đậm trong mọi loại hình kiến trúc nhà dân gian ở Hà Tây.

Ngược dòng thời gian, những ngôi nhà tối cổ ở Hà Tây tương tự như hang đá ở Sũng Sàm, ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức. Cách ngày nay hàng vạn năm, người nguyên thuỷ đã lợi dụng mái đá làm mái nhà, hang sâu làm nơi sinh hoạt. Sau buổi hái lượm, cư dân trong một bộ tộc, cùng về nghỉ ngơi trong hang. Họ đã dùng lửa để chế biến thức ăn: nướng thịt thú rừng, luộc ốc, nấu canh rau…Về sinh hoạt văn hoá tinh thần, họ đốc đuốc múa hát. Ngôi nhà hang này còn để lại nhiều dấu tích văn hoá như các đống thái vỏ ốc và các mảnh chế tác công cụ đá.

Vào thời vua Hùng Vương, những ngôi nhà sàn ở miễn núi cũng như ở các vùng trũng, chỉ còn được ghi lại trên các trống đồng. Thuở đó, đất còn bạc lạc, nước còn bời lời, ông cha ta mới bước vào công cuộc chinh phục tự nhiên, ngăn lũ, khai hoang, giành nơi cư trú và sản xuất. Câu chuyện Sơn Tinh ở Ba Vì, chuyện Chủ Đồng Tử – Tiên Dung ở Thường Tín là một trong những huyền thoại còn sót lại, ca ngợi tinh thần chinh phục thiên nhiên, mở mang vùng đất của người Việt cổ, để ngày nay chúng ta có làng, bản, có ruộng vườn. Thuở ấy, vùng đất Hà Tây, có độ cao trung bình 2m so với mực nước biển, chủ yếu sống theo chế độ xã hội lạc hầu, lạc tướng, lạc dân. Lạc dân có lạc điền. Ruộng người Lạc Việt quanh năm trắng nước. Ngôi nhà của họ cũng được xây dựng trên mảnh đấy sình lầy nhiều cỏ lác, cỏ lăn. Ngôi nhà thời đó, hoặc ở trên gò đống kiểu nhà sàn, mà mô hình được khắc họa trên trống đồng Hoàng Hạ (Phú Xuyên), trống đồng Phú Phương (Ba Vì), trống đồng Ba Thá, trống đồng Miếu Môn. Đó là kiểu nhà sàn nhỏ hẹp, mái vẩy, lợp cỏ tranh có 2 tầng, tầng trên là nơi ở, tầng dưới là nơi nhốt gia súc, gia cầm. Con người phải sinh hoạt ở tầng sàn để tránh thú dữ, trăn, rắn và nhiều loại côn trùng nguy hiểm khác. Ngoài ra, kiểu nhà sàn còn tránh được lũ lụt, mưa gió, bão giông, thường xảy ra trong cuộc sống hàng ngày.

Nhà sàn cầu mùa mái vòm, chi tiết trên trống đồng Hoàng Hạ. Nguồn: Redsvn
Nhà sàn có mái cong có hiên, chi tiết trên trống đồng Hoàng Hạ. Nguồn: Redsvn

Cho đến năm 1945, nhiều nhà sàn vẫn còn thích nghi và được sử dụng ở một số xã có đồng bào dân tộc Mường. Nhà sàn của người Mường ở Ba Vì tương đối lớn, toàn bộ cấu kiện cột, kèo, dầm xà, ván lát, cầu thang đều bằng gỗ. Đối với những gia đình nghèo, nhà sàn của họ chủ yếu làm bằng tre, những cũng đủ các cấu kiện như nhà gỗ. Nhà sàn bằng tre không làm mộng chốt, mà liên kết bằng gá gác, thắt buộc dây dợ hay song mây chặt nút. Trên sàn gác là mặt bằng sinh hoạt văn hoá của gia đình, có chỗ ăn, ngủ, chỗ sinh hoạt cho nhiều đối tượng. Ngoài hiên sàn là nơi đựng nước, phơi quần áo, nơi treo thóc lúa, ngô khoai. Bếp đun thường ở gian giữa hoặc ở phía đốc nhà, trở thành nơi sưởi ấm, nơi tụ họp của gia đình sau ngày lao động mệt nhọc và có tác dụng làm bền vật liệu của ngôi nhà trong môi trường khí hậu ẩm thấp.

Một ngôi nhà sàn của người Mường. Ảnh: Internet

Nhà sàn thường chia gian theo số lẻ 3-5-7. Nếu ba gian thì nhà có 2 hàng chân cột chính tạo nên một gian chính, 2 hàng chân cột phụ tạo 2 gian chái vẩy; nhà có 5 gian có 4 hàng chân cột chính tạo nên 3 gian chính, 2 hàng chân cột phụ tạo 2 gian chái vẩy; tương tự với nhà 7 gian. Vậy nên ngôi nhà sàn thường có 4 mái đầu hồi dựng đứng và lợp bằng lá gồi, cỏ tranh. Nhà sàn thường có gian ngoài để đón tiếp khách, được ngăn cách bởi một bức vách gỗ hoặc nứa, phía trong là nơi ngủ của các thành viên trong gia đình. Kho lương thực chứa trong gác lửng, người dân lợi dụng 2 quá giang dài của vì kèo ghép tre, tạo thành mảng, để đưa những bó lúa, bắp ngô, hoa quả lên trên đó.

Ngôi nhà sàn là một ngôi nhà thường có kết cấu vì kèo đơn giản. Mỗi vì thường là 2 cây cột cái và 2 cây cột quân, cùng 1 quá giang và 1 đòn ngắn giằng 2 thanh kèo. Các giằng này người Mường gọi là “quết đồ”, người Kinh gọi là “câu đầu”. Mỗi vì kèo thường có khoá kèo hay là con xỏ. Đây chính là “vì kèo cầu quá giang” với kiến trúc cửa cư dân Việt cổ.

Một nếp nhà cũ ở làng Bối Khê, Hà Tây xưa. Ảnh: Triệu Chiến

Ngôi nhà nền đất của người Việt ở các huyện đồng bằng thuộc Hà Tây là loại hình kiến trúc nhà ở dân gian phổ biến nhất. Khuôn viên nhà thường bao gồm: nhà chính, nhà phụ, nhà bếp, chuồng gia súc, sân, vườn, ao, giếng, tường rào, cổng ngõ. Nhà chính là bộ phận chủ yếu, là nơi cư ngụ của gia đình thường đặt hướng Nam hay Đông Nam, tránh hướng Bắc là hướng gió rét. Mọi sự đầu tư tiền của, vật liệu, kĩ thuật, loại hình kiến trúc, người chủ đều tập trung cho ngôi nhà chính.

Kết cấu bên trong một ngôi nhà xưa ở làng Bối Khê, Hà Tây cũ. Ảnh: Triệu Chiến

Nhà chính thường toạ lạc ở vị trí đẹp trên khu đất định làm nhà. Nền nhà đắp cao hơn sân từ 0.2m trở lên. Trong dân gian người Việt thường có câu: “Nhà cao, cửa rộng” để chỉ sự sang trọng giàu có đó. Nền nhà cao còn có tác dụng tránh ẩm thấp, mưa lũ của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Ngôi nhà đất cũng có bố cục theo kiểu lẻ gian: 1, 3, 5 hay 7 gian cùng với cửa sổ ở 2 đầu hồi và hiên (hành lang) phía trước.

Nếp nhà thường thấp, chắc chắn. Ảnh: Triệu Chiến

Tuy vậy, kiểu nhà nền đất ở mỗi vùng cũng có sự khác nhau. Vùng giáp đổi dáng nhà lùn, chắc chắn, cấu tạo giằng buộc chặt chẽ để chống gió bão. Vùng đất bình địa, đồng bằng thì dáng nhà to cao, đồ sộ.

Vật liệu dùng để xây dựng những ngôi nhà nền đất, người dân khai thác gỗ, tre, nứa, lá, đất đá tại địa phương nơi họ cư ngụ. Sau này, khi các ngành nghề thủ công, cơ khó, công nghệ phát triển thì người dân còn sử dụng các loại vật liệu cao cấp như gạch, ngói, sành, sứ, vôi, cát, xi măng, sắt thép các loại…Do vậy có nhiều loại nhà: Nhà tre, nhà xây gạch, nhà ngói, nhà trình tường đất, nhà bê tông mái bằng, nhà lầu nhiều tầng…

Trong ngôi nhà tre cổ truyền, toàn bộ kết cấu khung sườn chịu lực: cột, vì kèo, đòn tay, rui mè, cót, vách, phên dại, cửa đi, cửa sổ, cổng ngõ…cho đến những sợi lạt buộc đều được làm bằng tre ngâm dưới bùn ao thiều tháng, nhằm tạo độ bền cho các loại vật liệu xây dựng. Ngôi nhà gạch xây tường xung quanh. Khung nhà có thể là tre, gỗ. Nếu là gỗ thường là gỗ xoan, bởi gỗ xoan có tác dụng chống mối mọt, nên được nhiều người ưa chuộng. Gỗ chủ yếu để làm bộ khung, sườn chịu lực với hệ thóng cột, vì kèo, xà truyền lực liên kết mộng. Trên các chi tiết kết cấu gỗ, thường có chạm khắc hoa lá đơn giản, hoặc chữ triện để thể hiện ước mong tốt đẹp cho cuộc sống.

Nhiều đơn nguyên trong một căn nhà, bao quanh bởi bờ tường gạch ở làng Bối Khê. Ảnh: Triệu Chiến

Về bài trí mặt bằng sử dụng trong ngôi nhà chính, gian giữa thường là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, dưới là chiếu ghế, sập ngồi, chỗ tiế khách trang trọng, đồng thời là chỗ ngủ của ông chủ nhà. Hai gian bên, kê giường là nơi ngủ của vợ, của con…Nhà chính có buồng để đựng lương thực, cũng là chỗ dành cho cặp vợ chồng trẻ (con trai, con dâu) của gia đình. Đây là mô hình chung, tuy nhiên cũng có nhiều dạng bài trí mặt bằng sinh hoạt có sự khác nhau trong từng nhà, từng vùng.

Ngôi nhà phụ của gia đình bao giờ cũng có quy mô nhỏ hơn, kiến trúc đơn giản hơn ngôi nhà chính. Chức năng của nó là để chứa đồ đạc, dụng cụ sản xuất, nơi đặt các công cụ chế iến lương thực như cối xay, cối giã, máy tuốt lúa…Những gia đình điều kiện kinh tế còn khó khăn, ít làm nhà phụ. Họ chứa các đồ đựng, dụng cụ sản xuất vào gian chái của ngôi nhà chính.

Nhà bếp và nhà chăn nuôi thường tách khỏi ngôi nhà chính. Kiến trúc của chúng thường là tường, vách, cột kèo đơn giản. Ngôi nhà bếp dùng để chất rơm rạ, củi và là chỗ đặt bếp đun nấu thức ăn. Chuồng trại chăn nuôi gồm có chuồg trâu bò, chuồng gà, chuồng lợn…Tuy nhỏ nhưng cũng là những công trình kiến trúc riêng biệt.

Một căn nhà ở làng Bối Khê, Hà Tây xưa. Cổng đã bị bịt để đối lối đi, bên trong nhà đã cao tầng. Ảnh: Triệu Chiến

Nhìn chung, những ngôi nhà dân gian cổ truyền ở vùng nông thôn Hà Tây, dù là miền trung du, miền đồng bằn hay miền núi đều qua quá trình chuyển đổi từ kiểu ngôi nhà sàn đến ngôi nhà nền đất, phù hợp với quá trình cải tạo thiên nhiên và sự biến đổi của xã hội. Từ vùng núi cao Ba Vì đến vùng đồng trũng Khu Cháy, huyện Ứng Hoà đã xuất hiện nhiều ngôi nhà tầng, kiến trúc hiện đại bằng bê tông, sắt thép và xi măng. Kiểu kiến trúc nhà đô thị đã xuất hiện, du nhập vào làng xã nông thôn, tạo nên cảnh quan nông thôn kiểu mới, có điện, đường, trường, trạm phục vụ đời sống dân sinh.


Nội dung:
TTH

Zeen is a next generation WordPress theme. It’s powerful, beautifully designed and comes with everything you need to engage your visitors and increase conversions.

Xem thêm
Trần Thị Ngụ Ngôn